Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home/content/80/7377980/html/index.php:2) in /home/content/80/7377980/html/config/db_connection.php on line 2

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home/content/80/7377980/html/index.php:2) in /home/content/80/7377980/html/config/db_connection.php on line 2
.: Welcome to Hội Ái Hữu Bạc Liệu Tại Bắc CaLi :.

THƯƠNG MẠI

 


Luật Sư
Nguyễn Thu Hương

2114 Senter Rd. Suite 5
San Jose, CA.95112
408-275-1626

Thuốc Bắc
DƯƠNG LAI CẢNH
 
2449 Alvin Ave.                    
San Jose, CA.95121           
408-532-6982            
          
 

SENTER PHARMACY
2643 - A Senter Rd.
San Jose, CA 95111
408-287-4899


DANNY DUNG NGUYEN
1221 Story Rd. 2nd Floor # 90
San Jose, CA 95122
408-295-6865
408-515-2159

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

102 Spring Stowne Center
Vallejo, CA 94591
707-649-0888
102 Spring Stowne Center
Vallejo, CA 94591
707-649-0888

508 Contra Costa Blvd.# P
Pleasant Hill, CA 94523
925-680-8135
3495 Sonoma Blvd. # H
Vallejo, CA 94590
707-557-2780
102 Spring Stowne Center
Vallejo, CA 94591
707-649-0888

  




 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRUY���N NG���N - T��Y B��T
Hoài có hương - Chúc

Hoài Cố Hương

 Anh biểu Bạc Liêu kể hoài không hết chuyện, nhứt là chuyện xóm Chuồng Bò. Xóm chuồng bò là một xóm bình dân lao động đối diện dảy nhà ngói của xóm Chung Bá nằn dọc rạp Chung Bá. Hai dãy nhà nằm trên đường Trưng Trắc nối dài đổ đến tận con sông nhỏ phân chia ranh giới Bạc Liêu và xóm làng, xóm lò gạch.  Xóm chuồng bò khởi đầu là dẩy nhà lá do ông I-man cất cho mấy người làm công cho ông cư trú. Dãy nhà cất cạnh bên căn nhà ngói vách tường gạch phong tô khang trang của ông. Khi tôi biết thì xóm nhà lá đã trỡ thành xóm nhà thiết với mái thiết đã hoen rỉ. Cuối xóm xưa là một chuồng bò nên đã mang lại  tên cho xóm. Ngoài mấy con bò cung cấp sửa cho gia đình ông I-man, chuồng còn có đám dê để cung cấp nguyên liệu cho nồi cá ri dê mà thỉnh thoảng vợ ông I-man mang sang biếu bà tôi tô ca ri dê thơm lừng. Ông I-man người Ấn Độ, nhưng ở Bạc Liêu người ta gọi Ấn Độ là Chà và, một lầm lẩn địa lý khá xa, vì từ Ấn Độ muốn qua Java (Chà và) phải băng qua Ấn Độ Dương mênh mông, vượt cả ngàn hải lý.

Ông I-man đa thê, ông có vợ cả ở Ấn Độ, qua Việt Nam ông cưới thêm hai bà vợ Việt. Bà vợ “út”, cô Tám ở Bạc Liêu sống trong ngôi nhà khang trang ở đầu xóm chuồng bò. Cô Tám rất đẹp với làn da bánh mật ngâm đen, sóng mũi cao thẳng, đôi mắt to đen láy, giọng nói cô ấm trong trẻo. Cô vận Sa-ri giửa trán cô chấm một vết son tươi. Lúc đó cô đã là một thiếu phụ đầy đặn, thoạt nhìn ai cũng tưởng cô là một người phụ nữ Ấn hoàn toàn. Cô hiền lắm tôi không nghe cô la rầy ai. Cô sanh cho ông I-man đám con sáu đứa. Tuy ráng nuôi dạy con theo phong tục Ấn, nhưng con cô tất cả đều nói tiếng Việt. Tôi là bạn láng giềng cùng trang lứa với Mi-na và Thạch-ma hai đứa con gái của cô. Chúng tôi thường chơi  đánh đủa, nhảy dây trên sân gạch bên cạnh nhà . Ông I-man lâu lâu mới về Bạc Liêu. Khi ông về căn nhà ông nhộn nhịp hẳn ra. Người làm kẻ dọn ra vào tấp nập.  Mi-na và Thạch-ma không dám ra sân chơi, chỉ quanh quẩn trong nhà chờ lịnh bố. Những lần ông I-man đi Ấn về, ông có mang về những chiếc vòng đeo tay làm bằng thuỷ tinh màu sắc sặc sở cho các con. Có lần tôi qua chơi, Cô Tám cho tôi một chiếc vòng đỏ. Hí hững tôi nâng niu chiếc vòng trên cổ tay nhỏ bé của mình. Tôi không nhớ sau đó số phận chiếc vòng ra sao. Có thể nó đã vỡ khi tôi theo đám con trai đi chơi đánh hưng hay chọi đáo trước rạp Chung bá.

Chuồng bò khi tôi biết chỉ còn mấy con dê do ông Sáu chăn. Ông Sáu ốm nhom lưng còng, lụm cụm ông nuôi mấy con dê. Bộ quần áo ông bận rách vá nát bươm. Ông sống một mình trên căn gác cất bên trên chuồng dê. Căn gác trống trơn, tết về gió bấc thổi luồng tuông làm căn gác lạnh lẻo thêm.  Ông Sáu sống lủi thủi với nghề gánh phân thùng và chăn mấy con dê cho ông I-man. Thỉnh thoảng sau bửa cơm chiều còn chút canh dư, bà tôi sai tôi mang qua cho ông Sáu. Ông đón tô canh không nói gì. Tôi một đứa bé như tất cả trẻ em khác không phân biệt giàu nghèo sang hèn, đứng vô tư nhìn ông sang canh qua cái tộ mẽ của ông. Mãi về sau viết về ông Sáu tôi mới chợt nghe lời cám ơn của ông qua ánh mắt già nua cằn cỏi.

Xóm chuồng bò khi thành xóm nhà thiết được ngăn ra thành sáu căn, mỗi căn bề ngang cở ba thước, bề sâu cở bốn hay năm thước với cửa trước luồng tuông thẳng ra cửa sau. Lúc đó ông I-man cho bà con nghèo bên vợ và dân lao động mướn.  Căn đầu cạnh nhà ông I-man là gia đình ông Bảy Hửu, anh vợ của ông. Ông Bảy Hửu làm nghề chạy xe lôi. Những trưa hè nóng bức xe hư ông lôi chiếc xe ra lộ sửa, máy nổ um xùm làm cả xóm không ai ngủ được giấc trưa cho yên.  Những hôm xe chạy có tiền, chiều về vợ ông trải chiếu lên mặt lộ bày chai rượu đế, mấy con khô mực, dĩa đậu phọng, mấy trái ổi chua bắt mồi nhậu. Đám bạn nhậu ồn ào ngồi giửa lộ, đám con nít bu quanh vòng ngoài ngồi coi. Tới khi mấy chai rượu cạn thì đám nhậu đã quắc cần câu. Ông Bảy Hửu chân xẹo tay quẹo đứng lên múa lâm-thôn trong tiếng vổ nhịp của đám bạn nhậu.

Bên cạnh nhà ông Bảy Hửu là gia đình của hai anh em ông Ba Tệt và ông Tư Xương. Căn nhà hẹp té sống bảy mạng người.  Ông Tư Xương là em, vợ chồng không có con. Ông Tư Xương rất hiền lúc nào cũng cười cười nhưng rất ít nói. Khi nhà có giỗ cần xây bột làm bánh ít bà tôi gọi ông tư Xương qua chở thùng nếp tẻ và tôi tới lò hủ tiếu mướn xây. Sở dĩ có tôi vì tôi là người mang tiền trả công xây bột. Gia đình Tư Xương khá tươm tất có lẽ chỉ cần nuôi hai miệng ăn thôi, không con mọn. 

Ông Ba Tệt chân bị tật nên ông đi tập tểnh. Ông làm thợ may nên gia đình cũng đỡ. Vợ ông có nuôi con heo sau nhà và chăn hai thằng con phá nhất xóm cùng đứa con gái còn ẵm nách. Hai thằng con có cái tên hết nước nói Tư-xái (cứt heo) và Cảo-xái (cứt chó). Thằng Tư-xái lớn phải lo ẵm em cho má nó làm công chuyện. Thằng Cảo-xái theo chân anh làm tà lọt. Những hôm ham chơi tụi nó bỏ đứa em bù lăn truớc nhà, con nhỏ ỉa trây trét khóc thét làm bà Ba Tệt đang cho heo ăn phải bỏ tay chạy lên, vừa dọn vừa réo thằng con. Không nghe tiếng tăm của nó bà nách đứa con một bên tay, tay kia xách cây chổi chà ra rạp Chung Bá kiếm thằng Tư-xái. Lát sau có tiếng chân chạy quỳnh quịch của thằng Tư-xái phóng nhanh từ của trước ra cửa sau nhà Ba Tệt. Bà Ba Tệt chạy lóc xóc đằng sau, tay quơ chổi miệng chưởi con ra rả.

Bà Năm Châu trông rất quí phái so với các bà bên xóm chuồng bò. Lúc nào bà cũng bận quần sa ten đen bóng và cái áo bà ba trắng tinh. Tóc bà lúc nào cũng bới cao tém sát sau ót, cái búi tóc đầy được bao lưới tươm tất. Miệng nhai trầu tay bà vắt một cục thuốc xỉa to chà hai hàm răng trên dưới rất nhịp nhàng. Ông Năm Châu chồng bà đạp xích lô. Nhà ông có hai đứa con. Đứa con trai lớn tuổi quân dịch vô lính đi biệt tăm. Đứa con gái tên Liên là bạn lối xóm của tôi nhưng bà tôi ít khi cho tôi đi chơi với nó vì nó biết chưởi tục. Từ khi ông Sáu khòm quá yếu không còn gánh được nữa, để có thêm phụ trội ban đêm ông Năm Châu đi gánnh phân thùng thế ông Sáu. Tuy vậy bà Năm Châu vẫn luôn giữ nét quí phái. Mỗi sáng bà cắp chiếc nón lá ngồi vắt tréo chân trên xe xích lô do ông Năm Châu đạp đưa bà lên chợ ăn hàng. Gia đình ông Năm Châu trông thật hạnh phúc. Chỉ khi ông uống rượu say vợ chồng mới lời qua tiếng lại, rồi chưởi nhau um xùm cả xóm, lời lẽ đương nhiên tục tằng. Đôi khi thượng cẳng tay vợ chồng đánh nhau. Cái búi tóc của bà bị xổ bung ra, ông nắm gịch mớ tóc đè xuống đất, dấm bà túi bụi. Con nít và cả người lớn trong xóm bu quanh. Tiếng đấm tiếng dậm quình quịch hoà lẫn vào tiếng tru tréo của người vợ và tiếng gào khóc của con Liên thành một thứ âm thanh đặc trưng của xóm Chuồng Bò. Mãi kịp khi Tư Thanh đạp xe về nhà thấy ồn ào nhảy vội từ chiếc xe xích lô của mình xô dấm đông nhào vô lôi Năm Châu ra, bà Năm Châu mới chạy thoát. Sáng hôm sau bà Năm Châu qua tìm bà tôi xin dầu cù là thoa lên những vết bầm còn đau nhói. 

Cạnh nhà ông Năm Châu là nhà cô Chín. Cô Chín là em ruột cô Tám, em vợ của ông I-Man. Chồng cô hình như làm trên sở cảnh sát, tôi là con nít nên không rỏ cho lắm. Vợ chồng cô không con. Má cô sống chung với cô, bà Hai má cô và cũng là mẹ vợ ông I-man. Nghe nói gia đình bà ở quê chồng chết, mất mùa nợ mượn không trả nỗi, gả cô Tám cho ông I-man, lúc đó ông là chủ nợ của bà Hai. Sau ông I-man là rể bà, tuy vậy bà và các con bà vẫn gọi người con rễ là “Ông chủ” rất kính cẩn. Bà hai thường hay đi câu cá chốt dưới con sông nhỏ cuối xóm. Những hôm nước rông lên đầy, tôi ra bờ sông coi bà câu cá. Mồi cá của bà là trùng đất. Bà mắc mồi quăng câu gọn gàng. Có tay sát cá chỉ một đổi bà câu được lon cá chốt đầy, đủ kho cho một bửa ăn.

Ông Năm Phái tên Phùng văn Phái. Sở dỉ tôi biết rỏ tên họ ông vì trên một tấm kiếng ảnh chưng hình in treo trong nhà tôi do ông tặng có ghi “Phùng văn Phái thân tặng”. Tôi không biết ông làm nghề gì nhưng nhà ông bên xóm chuồng bò. Ông trông rất học thức và làm khu trưởng cả xóm Chuồng Bò lẫn xóm Chung Bá (thời chính phủ Ngô đình Diệm nhà chia theo khu). Tôi nhớ ông Năm Phái hay bận bộ bi-gia-ma sọc thường qua nhà tôi cùng ông tôi và ông Bảy Rạp, bàn chuyện thời sự. Gia đình ông Năm Phái sống kín đáo nên tôi không có ký ức nhiều về ông.

Ông Bảy Rạp ở bên xóm Chung Bá. Bên hông rạp Chung Bá có hai dẫy nhà, dãy bên mặt cạnh nhà tôi. Nhà của ông Bảy Rạp ở cuối dãy. Ông là người trông coi bảo quản rạp kiêm luôn kỷ thuật điện. Mỗi khi có gánh hát về ông là người chạy máy phát điện cho rạp hát. Ông có cho mấy gia đình chòm xóm giăng dây điện ké. Ngày có gánh hát về nhà tôi sáng hẳn ra với mấy cây đèn ống dài bắt điện từ rạp Chung Bá. Ông Bảy Rạp dáng thư sinh cao gầy, lúc nào cũng bận bộ đồ bà ba trắng, chân mang đôi guốc dong. Ông được cả xóm kính nể vì ông nói năng rất nghiêm túc, cư xử công bình, đặc trưng của một nhà lảnh đạo. Nghe nói vợ ông trước đó đã từng làm vú nuôi của gia đình Lý tồng Bá, người sau nầy làm chỉ huy trưởng thiếc giáp.

Đầu dãy phố Chung Bá là một thảo bạt lộp tôn vách trống xập xệ , đó là quán cà phê của ông Tùa Nấu. Quán chỉ bán khi rạp có gánh cải lương về hát. Buổi sáng bán cà phê, chiều tối bán thêm cháo lòng. Đầu hôm khi có đoàn cải lương lớn tới, dàn đào kép tên tuổi thường ghé quán nầy uống nước giải lao trước khi vào hậu trường. Ngày thường không có gánh hát tới trước sân rạp bà Tàu Nấu bầy bán bánh khọt vào buổi sáng. Buổi trưa bà bán gỏi đu đủ cho mấy người hay ăn hàng. Mỗi sáng tôi thường hay ra ngồi chồm hỗm quanh cái lò đất chụm củi, khói củi mắm bay tùm lum làm cay mắt, vậy mà tôi vẫn ráng ngồi đó chờ bánh khọt của bà Tùa Nấu. Bà nướng bánh khọt trong khuôn đất có nhiều ô nhỏ.  Mỗi ô có một cái nấp cũng bằng đất nhỏ xúi để đậy. Khuôn nóng bà Tùa Nấu gấp cục mỡ thoa vào, gặp nóng mỡ chảy mướt ra, xong bà đổ bột vô khuôn nghe cái xèo, lấy cái nấp nhỏ đậy lại nghe cái khọt....

Gạch nối giữa xóm Chuồng Bò và dãy nhà ngói ngang mặt là bà nội tôi. Bà nội tôi chăm mấy đứa cháu và lo chuyện bếp nút cho cả nhà. Ba má tôi có tiệm tạp hoá trên chợ phải lo buôn bán nên mọi việc nhà đều do bà trông nom. Để có chút phụ trội tiền cho cháu ăn quà, bà bán dầu lửa lẻ cho dân trong xóm. Chiều chiều dân xóm Chuồng Bò xách chai qua đong dầu để đốt đèn ban đêm. Dân xóm Chuồng Bò rất quí bà vì thỉnh thoảng bị kẹt tiền bà cho họ đong dầu thiếu chịu mấy đồng. Như để đáp lại, gần tết có gánh cá lóc tới bán bà mua mảo hết gánh, mấy bà bên xóm Chuồng Bò tự động sang góp tay với bà làm cá xẻ khô.

Năm đó gần tết trời lạnh hơn mọi năm nhiều. Hôm hăm ba tháng chạp đưa ông táo về trời, sáng đó bà tôi đứng trên lộ cùng với mấy người lối xóm đang bàn về tin đồn tết. Khi bà nói khí lạnh buổi sáng biến làn hơi thở ấm của bà thành vệt khói trắng bay lên. Nghe nói tết sẽ lộn xộn lắm, mấy người bên xóm Chung Bá bảo nhau thủ thức ăn khô như lạp xưởng cá khô và nhất là gạo. Mấy người bên xóm Chuồng Bò cũng phụ hoạ, nhưng tôi không biết làm sao họ thủ được khi mỗi ngày phải đi cân đong từng lon gạo nấu cơm.

Tết năm đó tình hình căng, rạp Chung Bá không có gánh hát nào kéo về nên vắng hoe. Nhưng chiều ba mươi xóm Chuồng Bò và xóm Chung Bá con nít vẫn nhộn nhịp vì ngày mai tết. Pháo từ đầu xóm đã nổ đì đùng. Nhà nhà đã bày biện mâm cơm cúng tất niên rước ông bà tổ tiên về nhà ăn tết. Đêm xuống nhưng tiếng pháo vẫn tiếp tục nổ vang. Ủa hình như pháo nổ nghe dòn quá, dòn hơn pháo đại hồi đó mấy gánh cải lương đốt. Tạch tạch tạch tạch. Súng máy, tụi bây chung xuống đất hết tiếng bà la. Tôi dụi mắt định chung xuống đất nhưng chị tôi đã kéo tôi xuống tự lâu rồi. Chúng tôi khum sát đất theo ánh đèn dầu bò vô phía xi- tẹt nước đã được tấn xung quanh thành chổ trốn đạn. Trời sáng dần, nhưng tiếng súng bắn càng lúc càng nhiều và càng gần. Tiếng súng phát ra từ phía rạp Chung Bá. Ầm ầm tiếng bom nổ xen vào tiếng súng. Rồi một tiếng ầm nổ to làm căn nhà rung rinh. Thôi bom bỏ ngay sát nhà mình rồi. Tôi hốt hoảng la, ba ơi chạy ba ơi! Không hiểu sao ba tôi lại nghe lời tôi. Lúc đó tôi chỉ là một đứa con nít còn ham chơi, lo chưa tới.

Thế là chúng tôi chạy, nhưng bà tôi ở lại. Bà bảo để bà ở thủ giử nhà. Nhà tôi lúc đó cửa không có khoá ngoài. Chúng tôi chạy về căn phố trên chợ ba tôi mua đã lâu rồi nhưng vẫn chưa dọn vào. Ngoài đường nhiều gia đình cũng đang chạy. Chúng tôi chạy chân đất không kịp mang dép. Con đường Trưng Trắc đá lõm chõm đâm chân đau, tôi chạy khập khểnh. Qua ngang sân rạp Chung Bá có một đôi dép ai đó bỏ lại. Lấy không? Không lấy? Nhưng không phải của mình, nên tôi không dám lấy đành chạy chân không.

Căn nhà chợ còn để trống chưa ai ở, trên lầu gia đình tôi đóng đô, dưới lầu ba tôi cho bà con người thân trú. Trong căn nhà trống căn bếp lạnh tanh không gạo không thực phẫm. Từ sáng đến chiều tôi đói meo, nằm co ro. Tình hình gay gắt hơn. Tiếng súng bây giờ nổ khắp nơi. Đến chiều bà tôi cùng Hia Súa người giúp việc trong tiệm ba tôi đẩy chiếc xe ba gác chở mớ gia dụng và một nồi cơm đang nấu dở lên. Theo sau bà là tất cả bà con lối xóm bên xóm Chuồng Bò. Rạp Chung Bá nằm ngay ổ giao tranh. Trong lằn tên mũi đạn bà tôi đã ráng bắt được nồi cơm. Chiều hôm đó tôi được ăn chén cơm nấu chưa chín một cách ngon lành.
 
Trong chợ người ta đã bắt đầu tổ chức cứu trợ. Những nồi cơm to được đem phân phát. Căn phố nhà tôi và nhiều căn phố trên chợ đã mở cửa cho người tị nạn tạm trú. Xóm lò gạch bên kia sông đã cháy rụi thành bình địa.  Xóm Chung Bá kéo ra mấy xác chết trong bộ bà ba đen, may mắn cả xóm không bị cháy. Mùng bảy tết tôi theo anh tôi và Hia Súa về nhà dọn thêm chút đồ đạt lên nhà trên chợ. Xóm Chuồng Bò vắng tanh. Cây ớt hiểm bà tôi trồng trước sân đang ra trái đỏ rực cây. Ngày thường hiếm khi cây ớt có trái đỏ vì lối xóm đi ngang qua thường tiện tay bẻ khi ớt hảy còn xanh. Khi tình hình yên lại bà con xóm Chung Bá và xóm Chuồng Bò đã trở về nhà. Nhưng gia đình tôi từ đó dọn hẳn về căn nhà trên phố chợ.

Tết năm đó vô tình đã là dấu chấm hết trong chương đời tuổi thơ của tôi. Nhưng anh nói đúng chuyện Bạc Liêu viết hoài không hết nhứt là chuyện Xóm Chuồng Bò.

Chúc
 

THƯƠNG MẠI

 




 





235 W. Calaveras Blcd
Milpitas, CA 95035
408-945-5909
.





 







 

481 E. Calaveras Blvd.
Milpitas, CA 95035
408-263-8288

262 E. Santa Clara St
San Jose, CA 95113
408-289-8688

520 Showers DR.
Mountain View, CA 94040
650-947-8888

6905 Camino Arroyo Dr, # 10
Gilroy, CA 95020
408-847-6988





 

 

 

 

 

 

 1818 tULLY rD. sUITE 162A
San Jose, CA 95122
408-528-1528


 

 


 


 


1049 E. Santa Clara St.
San Jose, CA 95116
408-292-4444
800-884-8358


KIM LOAN HEALTH CARE
1111 Story Rd., # 1105
SAn Jose, CA 95122
408-292-8838


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Copyright 2013 by Hội Ái Hữu Bạc Liêu Bắc Cali